Đôi điều về Dân Luận

Dân Luận theo đuổi một nền báo chí công dân, nơi mỗi độc giả chính là một nhà báo.

Mục tiêu của Dân Luận là cung cấp cái nhìn đa chiều về các vấn đề kinh tế - xã hội - văn hóa của Việt Nam và thế giới, với mong mỏi độc giả sẽ tự xây dựng cho mình phương pháp tư duy độc lập và khoa học.

Trang blog này là cầu nối giữa Dân Luận với độc giả trong nước, trong trường hợp bạn không truy cập được vào địa chỉ chính thức www.danluan.org.

Chúng tôi được biết Dân Luận đã bắt đầu bị chặn bởi tường lửa ở Việt Nam. Vì thế, xin mời bạn tham khảo cách vượt tường lửa để tiếp tục truy cập Dân Luận. Trong trường hợp gặp trục trặc, bạn có thể liên lạc với tqvn2004 tại huannc@gmail.com được hướng dẫn cụ thể.
(c) Dân Luận 2009. Cung cấp bởi Blogger.

Tổng số lần đọc

Google+ Followers

<center><img
src="http://www.rfa.org/vietnamese/reportfromvn/insanity-certificates-behind-the-scene-08222014142832.html/tam-than-305.jpg/image"
width="305"></center>
<center><em>Một người bị tâm thần ngủ bên hiên nhà trên
đường phố Sài Gòn. RFA</em></center>


Bệnh tâm thần, nói theo nghĩa nào cũng là một sự không may
mắn trong số phận của người mang lấy nó. Và chẳng có ai
dại gì dây dưa với những người bị loại bệnh này. Nói
cách khác, đó là một tai nạn số phận đeo đẳng suốt cuộc
đời. Thế nhưng gần đây, người ta chen nhau xin giấy chứng
nhận để được làm bệnh nhân tâm thần mặc dù bản thân
họ không dính dự gì đến loại bệnh này. Và đây cũng là
đầu mối của nhiều tội ác trong xã hội.

<h3><b>Giấy chứng nhận tâm thần trở nên có giá</b></h3> Giám
đốc một bệnh viện tâm thần chia sẻ:

<i>"Bệnh tâm thần nói nôm na là chia ra làm ba loại, một là
tâm căn, thứ hai là nó liên quan đến loạn thần, thứ ba là
nó liên quan đến hành vi và các loại nhiễm. Hiện có hai hệ
thống phân loại chuẩn mà Việt Nam mình dùng, một là hệ
thống ICD-10 của tổ chức y tế thế giới mà bộ y tế chính
thống hiện tại đang dùng tức hệ thống bảng phân loại các
loại bệnh tâm thần, thứ hai nữa là như mình hay những
người làm về lâm sàng thì thích DSM, cái này là theo tiêu
chuẩn của Mỹ, bây giờ là DSM-5 tức là mới ra đời năm 2013,
hai hình thức phân loại này là chuẩn nhất hiện nay giới
chuyên môn dùng. Trong các tiêu chí xác định ai đó có bị tâm
thần hay không là dựa vào cấp chuyên môn, rõ ràng khi một ai
đó đến bệnh viện tâm thần, thì mặc định rằng người
khám mình là có chuyên môn nên họ có một cái quyền là xác
nhận mình có tâm thần hay không nên điều này dẫn đến một
hiện tượng khá kỳ cục là họ mua giấy, khi người ta chạy
án hoặc là khi người ta làm việc không đúng với đạo đức
hành nghề."</i>

<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Khi một ai đó đến
bệnh viện tâm thần, thì mặc định rằng người khám mình là
có chuyên môn nên họ có một cái quyền là xác nhận mình có
tâm thần hay không nên điều này dẫn đến một hiện tượng
khá kỳ cục là họ mua giấy.<img class="quoright"
src="/misc/quoright.png"/> <br class="quoteclear"></div><div
class="quoteauthor">» GĐ một bệnh viện tâm thần</div></div>

- Theo vị giám đốc này, bệnh tâm thần được chia thành
nhiều nhóm theo chuyên môn của các bệnh viện và theo qui định
của chuyên khoa tâm thần Việt Nam, đương nhiên là các nhóm
này được chia căn cứ theo cách phân chia của quốc tế. Và
bệnh tâm thần thường phát bệnh từ những ngày cuối mùa
Đông mãi cho đến mùa Hạ năm sau. Có thể nói rằng trong thời
gian này, sự chật vật của bệnh nhân sẽ tăng gấp nhiều
lần so với những mùa khác vì số lượng bệnh nhân tăng quá
cao mà buồng bệnh thì quá hạn chế, chật hẹp, chính vì vậy
mà các bệnh nhân càng dễ trở nên nổi loạn và đôi khi các
bác sĩ không tài nổi quản lý họ được.

Và cũng theo vị giám đốc này, không hiểu sao gần đây có
rất nhiều người liên lạc với ông để xin giấy chứng nhận
tâm thần hoặc một số người không có dấu hiệu nào cho
thấy bị bệnh tâm thần nhưng lại cố tình gào thét, đập
phá để gia đình đưa nhập viện tâm thần, sau đó lại quậy
phá ở bệnh viện một thời gian nữa nhưng mỗi khi đưa thuốc
thì lại lén vứt đi, mặc dù các bác sĩ làm một số bài
kiểm tra tâm lý và đưa ra kết luận người đó không bị
bệnh tâm thần. Nhưng người đó lại tiếp tục quậy phá cho
đến khi có giấy ra viện của bệnh viện tâm thần cùng với
giấy xác nhận bệnh nhân tâm thần mới chịu thôi.

Vị bác sĩ này cho rằng một khi người ta chen chân nhau để
lấy giấy xác nhận bị bệnh tâm thần như vậy là có hai vấn
đề: Xã hội đang mỗi ngày càng giống bệnh viện tâm thần
hơn và; Giấy chứng nhận tâm thần rất có ý nghĩa trong xã
hội này. Mà một khi giấy chứng nhận tâm thần có giá trị
trong xã hội thì cũng đồng nghĩa rằng xã hội đó có quá
nhiều vấn đề mờ ám cũng như tội ác tiềm ẩn, rất có
thể người ta mượn chứng bệnh tâm thần để chạy tội vì
người mang phải bệnh này được xếp vào diện mất năng lực
quản lý hành vi, họ không phải chịu bất cứ trách nhiệm
hình sự nào.

<h3><b>Xã hội sẽ đi về đâu?</b></h3>

<div class="boxleft300"><img
src="http://www.rfa.org/vietnamese/reportfromvn/insanity-certificates-behind-the-scene-08222014142832.html/tam-than-400.jpg/@@images/5c8128d9-db63-46b3-abad-b2df0c7f0233.jpeg"
width="400"><div class="textholder">Một người bị tâm thần (ảnh
minh họa). RFA PHOTO.</div></div>


Một giáo sư xã hội học người miền Trung, hiện đang làm
việc tại thành phố Sài Gòn, chia sẻ:

<i>"Trốn trách nhiệm pháp luật nghĩa là có giấy chứng
nhận tâm thần thì có giết người cũng không có tội lỗi.
Bị tâm thần nó thế đó nên giờ nó có tiền nó chạy giấy
đó đó, liên quan đến vấn đề tài chính thì có giấy tâm
thần thì huề vốn. Vừa rồi có một giám đốc bệnh viện
tâm thần ăn hối lội nhiều quá trời rồi ra khám cũng bị
tâm thần luôn, thế là huề vốn. Bây giờ có giấy đó lợi
lắm, có giết người cũng không ở tù."</i>

Theo vị giáo sư này, tất cả những kẻ cố tình tạo dáng
tâm thần và chạy cho được giấy chứng nhận tâm thần đều
có vấn đề trong các quan hệ xã hội, mà nói cụ thể họ là
những kẻ đã gây ra một thứ tội ác nào đó khó bề tránh
khỏi lưới pháp luật cũng như khó bề tránh được tòa án
lương tâm. Chính vì biết tội ác của mình quá nặng, họ cố
tình chạy cho được giấy chứng nhận tâm thần để trốn
tránh trách nhiệm hình sự.

<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Trách nhiệm pháp luật
nghĩa là có giấy chứng nhận tâm thần thì có giết người
cũng không có tội lỗi. Bị tâm thần nó thế đó nên giờ nó
có tiền nó chạy giấy đó đó.<img class="quoright"
src="/misc/quoright.png"/> <br class="quoteclear"></div><div
class="quoteauthor">» Một giáo sư xã hội học</div></div>

- Ví dụ như một kẻ buôn ma túy, đến lúc y phát hiện ra
đường dây của y đã bị lộ nhiều chỗ, nguy cơ y bị bắt
chỉ là sớm muộn và với tội của y, khó mà thoát được án
nặng. Y bèn tìm cách chạy giấy chứng nhận tâm thần để
lách luật. Và chuyện này đã xảy ra quá nhiều ở Việt Nam,
không ngoại trừ những cán bộ, chức sắc nhà nước, sau quá
trình tham nhũng dai dẳng, họ biết bản thân không thể thoát
tội một khi đường dây quyền lực của họ bị vỡ, cái dù
bên trên của họ đã bị vô hiệu hóa thì bệnh viện tâm
thần trở thành cái dù khác thay thế cho cái dù quyền lực
trước đây. Họ sẽ bằng mọi giá kiếm cho được giấy
chứng nhận bệnh tâm thần… Mọi việc xem như xuôi thuyền
mát mái, bệnh viện tâm thần trở thành đấng cứu rỗi, thần
hộ mệnh cho các quan tham một khi cái dù quyền lực bị hỏng.

Trong một số trường hợp khác, những kẻ phạm tội giết
người cũng tìm cách chạy cho được giấy chứng nhận tâm
thần để chạy tội. Có không ít kẻ giết người trước đó
là một người lành lặn, không bị gì nhưng khi bước ra
trước vành móng ngựa thì mắt mũi kèm nhèm, gật gù, méo mó,
nói năng không dầu không đũa… và luật sư của y lại trưng
ra giấy chứng nhận tâm thần, mọi việc xem như xong, không
đủ cơ sở về năng lực hành vi của y để kết án.

Chuyện này xảy ra ở khắp đất nước, có một điều lạ là
không hiểu vì sao cho đến bây giờ, những kẻ mạo danh bệnh
tâm thần kia vẫn chưa bao giờ bị soi xét hồ sơ lần nào và
các quan tòa vẫn tin rằng y bị bệnh tâm thần, mọi tội ác
của y được gác lại sau tấm bình phong tâm thần của y. Đã
có rất nhiều trường hợp như thế trong các phiên tòa hình
sự, kinh tế ở Việt Nam nhưng chưa bao giờ có một cuộc
điều tra cụ thể nào về trách nhiệm của những bác sĩ tâm
thần có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận tâm thần man
trá này.

Điều này cho thấy hiện nay, xã hội Việt Nam đang ở cao trào
mượn giấy chứng nhận tâm thần để chạy tội, hệ thống
pháp luật cũng như những cơ quan thi hành pháp luật đã bỏ
ngỏ hướng này, để nhiều kẻ gây tội dễ dàng qua mắt pháp
luật cũng như lương tri cộng đồng. Thậm chí, rất có thể
một số quan tòa đã thông đồng với người nhà kẻ phạm
tội và bác sĩ tâm thần để thực hiện phương án tâm thần
hóa tội phạm mà thoát tội.




***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140823/phia-sau-to-giay-xac-nhan-benh-tam-than),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Đọc thêm →
<center><img src="http://www.danluan.org/files/u5219/nhantaid3c1c9329a.jpg"
width="360" height="250" alt="nhantaid3c1c9329a.jpg" /></center>
<center><em>Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.</em></center>

Thư ngỏ gửi tới: Ngài Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo,

Kính thưa Bộ trưởng,

Xin thứ lỗi cho tôi vì làm mất thời gian của Bộ trưởng.

Là một công dân Pháp nhưng tôi đã sống ở Hà Nội 15 năm
nay, một cách tự nguyện, tôi dành phần lớn thời gian và công
sức của mình nhằm thúc đẩy sự phát triển vật lý thiên
văn ở Việt Nam -qua đào tạo và nghiên cứu- đặc biệt tôi
đã tập hợp và đào tạo một nhóm các nhà vật lý trẻ bao
gồm ba thực tập sinh sau tiến sĩ, hai nghiên cứu sinh (sẽ bảo
vệ vào cuối năm nay và năm sau) và một học viên cao học.

Trong suốt thời gian sống ở Việt Nam, tôi tiếp xúc gần gũi
với nhiều sinh viên và nhà khoa học trẻ Việt Nam -đặc biệt
những bạn ở nhóm nghiên cứu nhỏ của chúng tôi- và tôi rất
lo lắng về khả năng mang lại tương lai mà họ xứng đáng
được hưởng của đất nước. Tôi luôn cố gắng hết sức
để ngăn chặn nạn chảy máu chất xám nghiêm trọng mà đất
nước đang phải hứng chịu và góp phần nâng cao chất lượng
đại học, hiện tại còn thấp hơn rất nhiều so với mức
độ mà đất nước xứng đáng có được.

Dĩ nhiên, tôi biết về lịch sử của Việt Nam, đất nước
đã phải chịu hậu quả của chiến tranh và nghèo đói trong
nhiều thập kỷ, tôi hiểu rõ những nguyên nhân của tình
trạng hiện nay. Tôi cũng nhận thấy sự phức tạp trong việc
giải quyết những khó khăn này và tôi biết chỉ ra thiếu sót
và phê phán thì dễ nhưng khắc phục để phát triển thì khó
hơn nhiều.

Tuy vậy, trong suốt những năm qua, tôi đã chứng kiến một
số thiếu sót trong hệ thống của chúng ta và nó có xu hướng
là nguyên nhân của tình trạng tê liệt và xơ cứng cản trở
sự tiến bộ. Phần lớn những thiếu sót này liên quan đến
thủ tục hành chính, chỉ một số ít gây ra do thiếu đạo
đức. Với tôi, một vài trong số những thiếu sót này có thể
được khắc phục mà không mất nhiều công sức. Sống ở
Việt Nam, như một người Việt, tôi cảm thấy lo lắng một
cách tự nhiên về hình ảnh của đất nước bị làm xấu trong
con mắt bạn bè quốc tế.

Tiêu biểu cho những bất cập này là những quy định về
việc trao bằng tiến sĩ. Tôi lấy việc này làm ví dụ minh
họa cho ý của mình.

Tôi có kinh nghiệm trực tiếp (dĩ nhiên tôi biết nhiều
trường hợp khác nữa) với: 1) 3 nghiên cứu sinh thực hiện
luận án theo hình thức đồng hướng dẫn giữa Viện Vật lý
(Viện Khoa học Việt Nam) hoặc Đại học Khoa học Tự nhiên Hà
Nội với những trường đại học uy tín của Pháp (Orsay và
Paris 6 – Jussieu); 2) một nghiên cứu sinh, hoàn toàn thực hiện
luận án tại Việt Nam với Viện Vật lý; 3) hai nghiên cứu sinh
đang thực hiện luận án theo hình thức đồng hướng dẫn với
hai cơ sở nghiên cứu chất lượng cao Đài thiên văn Paris và
Đại học Paul Sabatier tại Toulouse với Viện Vật lý Hà Nội.
Không theo những điều khoản đã được ký kết và viết rất
rõ trong thỏa thuận ở cấp cao của các cơ sở tham gia đào
tạo, không một ai trong ba sinh viên thực hiện nghiên cứu sinh
theo hình thức đồng hướng dẫn nhận được bằng tiến sĩ
của Việt Nam. Những sinh viên này đã bảo vệ luận án tại
Pháp, sau khi đã thực hiện đầy đủ những điều khoản trong
thỏa thuận, nhất là về ngôn ngữ và thành phần hội đồng
chấm luận án (tỉ lệ thành viên trong hội đồng từ phía
Việt Nam và Pháp). Những sinh viên này đã nhận được bằng
của Pháp ngay sau khi bảo vệ cách đây nhiều năm với những
lời tán dương từ hội đồng.

Người nhận bằng tiến sĩ từ Việt Nam (không thực hiện theo
hình thức đồng hướng dẫn) đã phải đợi một năm từ khi
luận án được in với sự đồng ý của hội đồng cấp bộ
môn cho đến hội đồng cấp viện.
Liên quan đến hai nghiên cứu sinh đang thực hiện luận án theo
hình thức đồng hướng dẫn, tôi quyết định để họ bảo
vệ tại Hà Nội, với hy vọng rằng quá trình thực hiện có
thể sẽ suôn sẻ hơn. Tuy nhiên, có vẻ mọi việc không được
như tôi nghĩ.

Bộ trưởng biết rõ, những bước chính để có thể nhận
được bằng tiến sĩ ở Việt Nam là:

1. Trình bày trước hội đồng gồm 3 thành viên 6 chuyên đề
liên quan đến luận án: trực tiếp (3 chuyên đề) và gián
tiếp (3 môn học phần tiến sĩ).

2. Trình bày trước hội đồng gồm 7 thành viên, nếu thành
công luận án sẽ được đề nghị bảo vệ ở cấp tiếp theo.
3. Luận án sẽ được phản biện bởi hai phản biện kín,
để đi đến bước tiếp theo luận án phải có được nhận
xét tích cực từ hai phản biện này.

4.Thêm vào đó, nghiên cứu sinh phải chuẩn bị 50 bản tóm
tắt luận án để gửi tới một danh sách các chuyên gia và
phải thu lại được ít nhất 15 nhận xét tích cực.

5.Cuối cùng luận án được chấm trước một hội đồng gồm
7 thành viên, trong đó bao gồm 3 phản biện và luận án sẽ
được đánh giá bằng bỏ phiếu.

Đối với ngành thiên văn vô tuyến, lĩnh vực mà chúng tôi
đang nghiên cứu, ở Việt Nam chỉ có hai chuyên gia, là Giáo sư
Đinh Văn Trung ở Hà Nội và Phan Bảo Ngọc ở Thành phố Hồ
Chí Minh, cả hai đều là những người được biết đến trên
thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu của mình. Điều này làm
cho việc phản biện kín trở nên khá hài hước, đấy là chưa
nói đến 50 chuyên gia đề cập ở bước 4. Trong trường hợp
đồng hướng dẫn, đối với đại học ở nước nước ngoài,
chỉ cần bước thứ hai là cần và đủ. Trong suốt những năm
qua, tôi luôn tự hỏi tại sao Việt Nam lại sử dụng một quy
trình phức tạp đến như vậy. Không thể làm như thế mà có
thể hy vọng làm tốt hơn đại học khác trên thế giới,
những trường có vị trí xếp hạng cao hơn nhiều so với các
đại học Việt Nam trên bảng xếp hạng Thượng Hải. Một lý
do đưa ra có thể là để chống lại gian dối; như TS. Bùi Anh
Tuấn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học của Bộ, phát biểu
trong một bài phỏng vấn gần đây, khẳng định có tồn tại
một vài gian dối. Nhưng tôi tin chắc rằng đại đa số các
giáo sư Việt Nam là trung thực và, dù sao đi nữa, cách để
chống lại gian dối là phạt thật nặng những tác giả của
nó, chứ không phải làm cho cuộc sống của những người trung
thực trở nên khốn khổ. Dành phần lớn sự nghiệp nghiên
cứu khoa học của mình tại một trung tâm nghiên cứu quốc
tế, tôi đã có rất nhiều kinh nghiệm trong việc hướng dẫn
và đánh giá luận án tiến sĩ ở nhiều nước châu Âu và châu
Mỹ. Chưa bao giờ tôi gặp những quy định phức tạp giống
như ở Việt Nam, và tôi cũng chưa bao giờ cảm thấy những nhà
quản lý học thuật lại thiếu niềm tin vào người hướng
dẫn như ở Việt Nam.

Trong bài phỏng vấn mà tôi đã đề cập, TS. Bùi Anh Tuấn có
bình luận về mục tiêu đạt được 20'000 tiến sĩ đến năm
2020; ông tán thành phát biểu của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam
rằng để đổi mới hệ thống giáo dục quốc gia, bản thân
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cần phải đổi mới. Đơn
giản hóa những quy định, đối với tôi, là một bước rõ
ràng để đổi mới; thực hiện việc này chẳng tốn kém gì;
nó sẽ cải thiện nhiều hình ảnh của đất nước trong con
mắt bạn bè quốc tế; nó sẽ giải phóng nền học thuật
thoát khỏi sự độc tài của thủ tục hành chính mà lẽ ra
chúng được sinh ra để phục vụ chứ không phải để điều
khiển; nó sẽ làm cho những người hướng dẫn trung thực,
chiếm phần đa, cảm thấy các nhà quản lý tin tưởng mình hơn
so với hiện nay.

Đây là động lực thúc đẩy tôi viết bức thư này, với hy
vọng làm Bộ trưởng chú ý đến vấn đề mà dường như
đối với tôi có thể giải quyết một cách dễ dàng và nó
sẽ giúp Bộ đạt được mục tiêu đào tạo được 20'000
tiến sĩ đến năm 2020. Vì Bộ trưởng không biết tôi, dĩ
nhiên, không có lý do gì để Bộ trưởng phải tin tôi; vì lẽ
đó tôi mạn phép viết bức thư này dưới dạng thư ngỏ để
những ai quan tâm đến việc cải thiện chất lượng giáo dục
đều có thể đọc được với hy vọng rằng họ sẽ ủng hộ
nhận định của tôi. Ngược lại, nếu nhiều người không
đồng tình với cách nhìn này, dĩ nhiên tôi sẽ rút lại những
nhận định của mình và xin Bộ trưởng lượng thứ cho. Tôi
trình bày những quan điểm trên chỉ với một mong muốn duy
nhất là phục vụ cho khoa học, giáo dục đại học ở Việt
Nam và đem lại cơ hội tốt hơn cho thế hệ trẻ.

Trân trọng,

Pierre Darriulat
Hà Nội, tháng Tám, 2014

Contact
Email: darriulat@vinatom.gov.vn
Vietnam Astrophysics Training LaboratorY,
Institute for Nuclear Science and Technology, 179 Hoang Quoc Viet, Nghia Do,
Cau Giay, Ha Noi

Người dịch: Phạm Ngọc Điệp (Email: dieppn@vinatom.gov.vn)

***
Open letter

To His Excellency the Minister of Education and Training,

Mister Minister,

Please, accept my apologies for taking some of your time.

While being a French national, I have now been resident in Ha Noi for some
fifteen years during which, on a voluntary basis, I have dedicated much time
and effort to the promotion of astrophysics in the country – university
training and research – in particular by having gathered and trained a team
of young astrophysicists that now includes three postdocs, two PhD students
who should obtain their degrees at the end of this and next year respectively
and one master student.

During all these years, I have been very close to many Vietnamese students
and young scientists – in particular to those of our small research team
– and very concerned about the ability of the country to offer them the
future that they deserve having. I have done my utmost to help stopping the
disastrous brain drain that the country suffers, and to help raising the
level of our universities, which is much lower than what the country is
worthy of.

I am of course familiar with the recent history of Viet Nam, the decades of
suffering that the country has endured through wars and starvation, and I
understand very well the reasons for the present situation. I am also
conscious of the immensity of the task and I know how easy it is to identify
weaknesses and to criticize, and how difficult it is to correct flaws and to
progress.
Yet, during all these years, I have witnessed a number of such flaws in our
system that tend to be source of paralysis and sclerosis and prevent
progress, mostly associated with bureaucracy, less often with insufficient
morality. It seems to me that a few of these could be corrected without too
much effort. After all these years, I feel naturally concerned by the country
giving abroad a bad image of itself, probably as much as Vietnamese do.

Emblematic of such dysfunctions is the regulation that governs the award of
a PhD degree to young postgraduate students. I should like to take it as an
example to illustrate my point.
My direct experience (of course I know of many more other cases) is with 1)
three PhD under joint supervision between the doctoral schools of the Ha Noi
Institute of Physics (IOP/VAST) or the Ha Noi University of Sciences (HUS)
and prestigious French universities (Orsay and Paris 6-Jussieu); 2) one PhD,
purely Vietnamese, with IOP; 3) two ongoing PhDs under joint supervision with
the Paris Observatory and the Paul Sabatier University in Toulouse, both of
very high level, and the Ha Noi IOP.

In spite of what had been agreed in very clear written agreements signed at
high level in the participating universities, none of the three
joint-supervision students has obtained his PhD degree in Viet Nam. The
defence of their theses has taken place in France, obeying scrupulously the
terms of the joint-supervision agreement, in particular concerning language
and balance of the jury members. They obtained their French degree
immediately after the defence, years ago, with very laudatory assessments of
the jury.

The doctor who obtained her degree from Viet Nam (no joint supervision) had
to wait one full year between the time when the thesis was printed and
approved by the first jury and the final award.
Concerning the two PhD students under joint-supervision who are now in the
mill, I decided to have their defence take place in Ha Noi, in the hope that
it would make the procedure smoother. However, it does not seem to be the
case.

As you well know, the main steps to get over in order to obtain the
Vietnamese degree are

1. Presentation to a jury of 3 members of six subjects related to the thesis
either directly (for three of them) or indirectly (for the other three).
2. Presentation to an evaluation jury of 7 members, which must recommend the
thesis for evaluation at institute level for proceeding to next step.
3. Double blind peer review by two experts who must give a positive
assessment for proceeding to next step.
4. In addition, the candidate must prepare some 50 copies of a short version
of the thesis for distribution to a list of experts out of which at least 15
positive assessments must be collected.
5. An evaluation jury of 7 members including 3 referees will finally
evaluate the thesis by ballot.

In the case of radio astronomy, on which we are working, there exist only
two experts in Viet Nam, Professors Dinh Van Trung in Ha Noi and Phan Bao
Ngoc in TPHCM, both internationally renowned. It makes the idea of blind
refereeing somewhat funny, not to comment on the 50 experts for step 4. Of
the above list, in the case of joint supervision, step 2 alone is necessary
and sufficient in the foreign country. Over all these years, I have wondered
why Viet Nam is following such a complicated procedure. It cannot be in the
hope to do better than so many other universities around the world that are
so much higher in the Shanghai ranking than Vietnamese universities are. A
possibility is the need to prevent frauds; as Dr Bui Anh Tuan, Director of
the Department of Higher Education in your Ministry, said in a recent
interview, there exist indeed a few frauds. But I am sure that Vietnamese
professors, in their vast majority, are honest and, in any case, the way to
fight against fraud is to severely punish its authors, not to make the life
of the honest people more miserable. Having spent most of my scientific
career in an international research centre, I have had numerous opportunities
to supervise and assess PhD theses in many European and American countries.
Never have I met regulations nearing those of Viet Nam in complexity; and
never have I felt to enjoy as little confidence from academic authorities as
I do in Viet Nam.

In the interview to which I already alluded, Dr Bui Anh Tuan commented on
the need to reach 20'000 PhDs by 2020; he endorsed the views of Deputy
Prime Minister Vu Duc Dam that in order to renovate the national education
system, it would be necessary for the MoET to renovate itself. A
simplification of the above regulations seems to me an obvious step in the
right direction; it costs nothing; it will greatly improve the image that the
country gives of itself abroad; it will help freeing academics from the
dictatorship of administration which should be at their service rather than
controlling them; it will make the honest supervisors, the immense majority
of them, feel better trusted by their authorities than they currently do.

This motivated my letter, in the hope that it might bring your attention on
a problem that seems to me easy to solve and that would help your Ministry in
reaching its goal of 20000 PhDs by 2020. As you do not know me, you have of
course no reason to believe me; for this reason I take the liberty to make my
letter accessible to all those who are concerned by improving the level of
higher education in the hope that they might support my statements.
Conversely, if my views were not shared by many, I would of course retract
them and ask for your indulgence. Be sure that my only motivation in
expressing them is to serve Vietnamese science and higher education and to
give better chances to the younger generation.

Very respectfully yours,
Pierre Darriulat,
Ha Noi, August, 2014




***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140823/pierre-darriulat-thu-ngo-pierre-darriulat),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Đọc thêm →
<center><img
src="http://1.bp.blogspot.com/-RaOrbu-3vow/U_gxlBNJdLI/AAAAAAAABeI/V8Rft0QLi00/s1600/baochi.jpg"
width="400"></a></center>

- Chúng tôi vui mừng, vì chưa đầy hai tháng thành lập, mà tinh
thần đa nguyên trong Hội nhà báo độc lập Việt Nam (HNBĐLVN)
đã phát huy tác dụng, hứa hẹn một nền báo chí tự do sẽ
mau đến cho công chúng Việt Nam.</b>


<b>Đa nguyên về quan điểm</b>

Những lý thuyết gia và những nhà cai trị các quốc gia theo
học thuyết Cộng sản thường đề cao việc thống nhất quan
điểm, theo một quan điểm duy nhất. Tuy nhiên, lịch sử Việt
Nam và thế giới cho thấy việc thống nhất quan điểm, tạo ra
một quan điểm duy nhất là một giải pháp kém hiệu quả nhất
cho phát triển. Hầu như nó chỉ đáp ứng được cho mục tiêu
của một nhóm nhỏ, mà chưa bao giờ đủ sức giải quyết các
vấn đề chung của cả cộng đồng. Minh chứng rõ nhất tại
Việt Nam là dùng chiến tranh để thống nhất đất nước, bỏ
qua một bên Hiệp định tái lập hòa bình đã được ký kết
ở Paris năm 1973. Còn trên thế giới là cuộc tấn công vào Iraq
với lý do ngụy tạo của liên quân Mỹ-Anh.

Do đó, việc đa nguyên trong quan điểm báo chí về tình hình
chính trị xã hội Việt Nam nên là bước đi tiên phong cho cả
cỗ xe Việt Nam đã khởi động rồi mà chưa biết lái theo
hướng nào cho tốt.

Việc nhà báo Phạm Chí Dũng đưa ra những nhận định của
ông về diễn biến của Việt Nam sau chuyến thăm Hoa Kỳ của
ông bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị trên BBC: "Chỉ
trong khoảng ba tuần lễ, dường như những người trong "Phe
bảo thủ" đã vượt lên một nhịp so với "Phe lợi ích",
khi trước đó thế giằng co là tương quan nổi trội tưởng
như còn kéo dài đến tận Đại hội Đảng 12" là quan điểm
bình luận của ông.

Quan điểm này có nhiều người chia sẻ, đón nhận, nhưng cũng
có không ít người chê bai. Ở đây có ít nhất ba luồng quan
điểm xuất hiện: Quan điểm của nhà báo Phạm Chí Dũng, quan
điểm của những người ủng hộ, và quan điểm của những
người không đồng tình.

Người đọc cũng cần phải cẩn thận khi chúng tôi không
nhập chung quan điểm của ông Dũng và những người ủng hộ
ông là một, vì trong thực tế, không ai ủng hộ ai 100% về
mặt tư tưởng cả. Người ta chỉ ủng hộ những quan điểm
phù hợp hoặc đang chi phối tích cực cho họ, hoặc ít là quan
điểm đó được hiểu theo ý họ, nên họ theo. Ngược lại
cũng hiếm có trường hợp không đồng tình hay chống đối
một quan điểm 100%. Nguyên tắc Âm trong Dương và Dương trong
Âm giúp hiểu rõ về vấn đề này.

Những bài viết kế tiếp đăng cùng trên BBC của ông Nguyễn
An Dân hay trên Tin tức hàng ngày của nhà báo Nguyễn Quang trình
bày quan điểm khác với nhận định của nhà báo Phạm Chí
Dũng về kết quả chuyến đi Mỹ của ông Phạm Quang Nghị là
điều bình thường.

Không ai đủ thông tin để khẳng định một trong các quan
điểm này đúng hoàn toàn hay sai hoàn toàn. Do đó đa nguyên quan
điểm cần được khuyến khích hơn nữa, để không chỉ dừng
lại hai quan điểm như thể đối đầu nhau, mà còn có thể có
thêm nhiều quan điểm xuất phát từ các lối tiếp cận khác
hầu tiếp tục cung cấp cho công chúng những thông tin chính xác
và minh bạch hơn, đồng thời giúp người dân có thêm nhiều
cơ hội suy tư và chọn lựa khi cần.


<b>Tự do đa nguyên, nhưng không được tấn công cá nhân</b>

Xét về mặt tư tưởng, không ai dễ dàng chịu ai, nhưng không
phải vì thế mà biến phản biện thành lên án cá nhân.

Nhà báo Nguyễn Quang viết trên Tin tức hàng ngày: "Nếu như
điều bình luận trên đây [bình luận của ông Dũng - NV] là
của một quần chúng bình dân thì người ta có thể bỏ qua cái
giả thiết cho rằng chuyến đi của John McCain và Sheldon
Whitehouse đến Việt nam vừa rồi là do dựa vào lời mời của
Phạm Quang Nghị. Song đây là bình luận của ông Phạm Chí Dũng
- Chủ tịch Hội NBĐL, một nhà bình luận chính trị được
đánh giá là sắc sảo hàng đầu thì đó là điều khó có thể
tha thứ".

Chúng tôi ủng hộ nhà báo Nguyễn Quang phản biện hay trình
bày ý kiến đối nghịch với tiến sĩ Phạm Chí Dũng, nhưng
chúng tôi không đồng ý ông Quang xem thường "quần chúng bình
dân" [cách dùng từ của ông Quang - NV].

Ông Quang viết "Nếu như điều bình luận trên đây là của
một quần chúng bình dân thì người ta có thể bỏ qua" nghĩa
là gì? Ông xem thường "quần chúng bình dân" không đủ tri
thức để hiểu vấn đề ông đang bàn sao? Trong cộng đồng
"quần chúng bình dân" đó có cha mẹ, thầy cô của các nhà
báo. Nhiều người trong họ là ân nhân về trí thức, về tâm
linh và cả về vật chất của nhà báo. Chưa chắc nhà báo có
khả năng hơn "quần chúng bình dân" đó. Nhà báo không được
"hút máu người" rồi bảo "máu người tanh".

Điểm thứ hai chúng tôi cũng không đồng ý với nhà báo
Nguyễn Quang là đang phản biện về nhận định đúng sai của
nhà báo Phạm Chí Dũng lại lôi thân thế, địa vị xã hội
vào để hạ thấp uy tín cá nhân ông Dũng.

Ông Quang viết: "Đây là bình luận của ông Phạm Chí Dũng -
Chủ tịch Hội NBĐL, một nhà bình luận chính trị được
đánh giá là sắc sảo hàng đầu thì đó là điều khó có thể
tha thứ".

Tại sao đang tranh luận về chuyện ông Nghị lại không tiếp
tục đưa ra những bằng chứng để làm sáng tỏ quan điểm
của ông Dũng là quan điểm thiểu số, không phù hợp với công
chúng lại lôi cái này vào? Đây là cách cãi nhau của người
không đủ lý, nên phải dùng yếu tố bên ngoài đưa thêm vào
hỗ trợ. Cần lưu ý tư tưởng con người không bao giờ được
đánh giá bởi địa vị xã hội của người đó. Một ông vua
không luôn luôn có tư tưởng tuyệt vời, mặc dù nơi vị này
tiềm năng đó rất lớn. Tráng sĩ Phạm Ngũ Lão đang ngồi giỏ
tre, nhưng ai có thể cấm ngài có những thao thức lớn lao về
đất nước.

Cách thức kéo nhân thân ra để đánh ngã đối thủ còn thấy
ở ông Nguyễn An Dân viết trên BBC tiếng Việt: "Điều này
vừa sai vừa ủng hộ bảo thủ, cả hai điều đều phản lại
tính chất "độc lập" của một nhà báo độc lập, lại là
Chủ tịch Hội Nhà Báo Độc Lập".

Xin các nhà báo hãy tranh luận cách trong sáng, đừng mang một
tiêu chuẩn do mình định ra rằng "độc lập" phải thế này,
"Chủ tịch HNBĐL" phải thế kia để đánh giá người khác về
quan điểm. Hãy chứng minh quan điểm của nhà báo Phạm Chí
Dũng sai, nếu quý vị có nhiều thông tin và trực nghiệm tốt
hơn, chứ đừng bao giờ nhắm vào con người đang muốn dấn
thân cho công cuộc chung. Điều này sẽ giúp báo chí Việt Nam
thoát thai khỏi báo chí xã hội chủ nghĩa và hy vọng công
chúng Việt Nam sớm có tự do báo chí.

Đừng nhà báo nào lại tự buộc mình trở thành cho công cụ
cho ai hay cho nhóm nào, vì sứ mạng của nhà báo là cung cấp cho
công chúng của mình tin tức quan trọng, chính xác, đầy đủ
và khách quan nhất.

<i>Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong riêng của tác
giả.</i>


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140823/lm-anton-le-ngoc-thanh-vu-pham-chi-dung-hoan-ho-tinh-da-nguyen-trong-bao-chi-doc),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Đọc thêm →
<strong>Dân Luận</strong>: <em>Bà Võ Thị Thắng, người con gái
Sài Gòn với "nụ cười chiến thắng" đã chinh phục hàng
triệu con tim khắp năm châu trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đã
qua đời. Cái chết của bà đã để lại trên dư luận mạng
một số tranh cãi về bản chất khủng bố hay yêu nước của
bà, một chiến sỹ đặc công Sài Gòn trong chiến tranh. Nhà văn
Đào Hiếu, một người thân của bà Thắng (Vợ Đào Hiếu là
em ruột LS Trần Quôc Thuận, chồng Võ Thị Thắng) đã đem lại
cho độc giả một cái nhìn khác về cuộc đời đầy bi kịch
của bà Võ Thị Thắng sau 1975.</em>

<div class="leftalign"><img
src="http://daohieu.files.wordpress.com/2014/08/vo-thi-thang-022.jpg?w=593"
/></div>Tám giờ mười lăm phút sáng ngày 22/8/2014 chị Võ Thị
Thắng, uỷ viên trung ương đảng CS Việt Nam, nguyên Tổng Cục
Trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam đã từ trần tại TPHCM sau
một thời gian dài bị bệnh nan y.

Với tư cách là "người nhà" của chị, tôi xin ghi lại đôi
điều mà tôi từng được nghe chị kể cùng với những kỷ
niệm nhỏ giữa tôi và chị như một sự bày tỏ lòng thương
tiếc và yêu mến.

*

Trước đây tôi không từng hoạt động chung với chị vì hai
người ở hai đơn vị khác nhau nhưng do sự sắp xếp ngẫu
nhiên của xã hội mà sau này chúng tôi trở thành người nhà
với nhau: chị làm dâu, còn tôi làm rể họ Trần.

Trong chuyến về quê chồng (Bình Định) tảo mộ, gia đình chị
và tôi cùng đi trên một chiếc xe mười sáu chỗ của ngành du
lịch. Suốt hai ngày đường, chúng tôi nghỉ lại nhiều nơi và
đó là dịp mà chị đã kể lại những "biến cố đầy kịch
tính" mà chị đã phải trải qua trong suốt thời gian làm
Tổng Cục Trưởng. Những biến cố ấy có thể viết thành
một cuốn sách dày, li kỳ hấp dẫn như phim hình sự Mỹ.
Nhưng chị không dám viết, cũng không dám nhờ tôi viết dù tài
liệu thì có rất nhiều. Tôi nghĩ rằng một ngày nào đó
những tài liệu ấy sẽ được công bố, hoặc là cuốn sách
ấy sẽ được viết ra, nhưng bây giờ thì không.

Bây giờ chỉ có ký họa.

Bây giờ chỉ vài đường nét bằng bút chì, bằng ngón tay
nguệch ngoạc trên cát biển Qui Nhơn, bằng hòn than vẽ trên
bức tường cũ… phác thảo bi kịch của một người đàn bà
có địa vị ngang hàng với bộ trưởng, một người từng gan
lì đuổi theo địch thủ của mình với một khẩu súng rỉ
sét, một nữ sinh trường Gia Long đã nghĩ ra được câu tuyên
bố để đời. Rồi cuối cùng chiếc ghế Tổng Cục Trưởng
mà người ta trao cho chị cũng bị đặt trên bốn trái mìn nổ
chậm được làm bằng lòng đố kỵ, bằng thù oán cá nhân,
bằng những mưu đồ ma quỷ.

Người con gái "anh hùng" ngày xưa chợt biến thành nhân viên
CIA Mỹ với tập hồ sơ dày cộm.

Đó là những ngày cuối năm 1996. Nhiều nhân vật có tình cảm
với Võ Thị Thắng trong Bộ Chính Trị đều rất bàng hoàng.
Con chạch lại leo lên đẻ trên ngọn đa! Vậy mà người ta
vẫn có đầy đủ những tài liệu về một con chạch như vậy!

Và nhiều kế hoạch "ám sát" đã được nghĩ đến: xông
thằng vào cuộc họp quốc hội "bắt nóng"? Hay bắn tỉa?
Bắn ở đâu?

Năm 1999 Tổng Cục Trưởng Võ Thị Thắng nhận được giấy
mời sang Mỹ dự hội nghị về du lịch. OK. Sao không cho người
bắn tỉa tại sân bay Los Angeles? Ngay khi đối tượng bước ra
cổng phi trường là gởi một viên đạn vào đầu rồi đổ
thừa cho CIA giết người diệt khẩu. Thật gọn nhẹ.

Kế hoạch lập tức được triển khai. Một anh chàng James Bond
007 mũi tẹt da vàng được chọn trong đám thân tín tại Mỹ
để thực hiện Mission Impossible này. Và Mme Thắng không hề hay
biết gì về âm mưu đó.

Mấy hôm sau chị lại nhận được một giấy mời của ngành du
lịch Trung Quốc. Và, một cách ngẫu nhiên, chị đã chọn đi
Trung Quốc.

Chàng James Bond ngồi ngáp ruồi ở sân bay Los Angeles.

Không giết được tên CIA Võ Thị Thắng ở Los thì sẽ bắt
cóc hắn tại sân bay Nội Bài khi hắn ta trở về Việt Nam.

Một phương án mới được triển khai ngay lập tức: khi máy bay
đáp xuống, xe con của Tổng Cục Du Lịch đến đón sếp thì
sẽ có một xe mười sáu chỗ trờ tới, ép nó sát lề, chặn
đầu. Khống chế tài xế, bắt cóc bà Tổng Cục Trưởng chạy
ra khỏi phi trường, thẳng về nơi giam giữ.

Và mọi việc đã xảy ra y như kịch bản. Nhưng khi những kẻ
bắt cóc mở cửa chiếc xe con của Tổng Cục Du Lịch thì chỉ
nhìn thấy "bác tài" đang "há hốc mồm" vì kinh ngạc.

-Bà Thắng đâu?

-Xe khác đã đến đón rồi!

Sự thực chẳng hề có chiếc "xe khác" nào cả. Chỉ có
phép lạ của phật bà Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài đã làm cho
chiếc va-li của Võ Thị Thắng lạc mất. Mme Thắng xuống máy
bay nhưng không tìm thấy hành lý, đứng chờ ở cái vòng xoay
cả tiếng đồng hồ. Tài xế chiếc xe con đến đón bấm
điện thoại di động gọi nhưng tắt máy, anh ta tưởng sếp
đã có người nhà đến đón nên chạy xe không về và bị
những kẻ bắt cóc ép vô lề.

Mme Thắng tìm được hành lý thì đã quá trễ. Chị đành gọi
một chiếc taxi.

*

<center><img
src="http://daohieu.files.wordpress.com/2014/08/vo-thi-thang-011.jpg?w=593"
/>
</center>
Kẻ thù giấu mặt ấy là ai? Chị biết, Bộ chính trị cũng
biết nhưng không làm gì được.

Và bà Tổng Cục Trưởng đã nghĩ đến cái chết. Nhiều
người trong Bộ chính trị không tin những hồ sơ ngụy tạo
ấy nhưng cũng không "dám" bác bỏ. Chị gần như đơn độc.
Chỉ trừ một người bạn giấu mặt. Một ân nhân của chị
mà cho đến giờ này, khi sóng gió đã yên, khi một số tay chân
của kẻ thù đã bị Bộ công an bắt, bị tòa án xét xử và
khi chị đã nghỉ hưu… chị cũng không hề biết người đó
là ai?

Trong những lúc lâm nguy nhất, người đó đã gọi điện cho
chị, từ một trạm điện thoại công cộng, và báo cho chị hay
rằng đang có một âm mưu như thế, như thế… rằng sự việc
sẽ diễn ra như thế, như thế…

Nhưng đó cũng chỉ là những an ủi nhất thời. Tuy nhiều lần
người ấy đã cứu chị thoát chết nhưng tại sao chị phải
lâm vào tình thế ấy? Tại sao lại phải sợ hãi những kẻ
đứng trong bóng tối? Tại sao kẻ trong sạch lại phải sợ
bọn tội phạm? Tại sao một cán bộ cao cấp như chị lại
phải sợ một thứ quyền lực đen nào đấy?

Và đã có lúc chị cầm một sợi dây thòng lọng. Chị cuộn
nó lại, giấu trong túi xách, đến soi mặt mình trong gương.
Một đêm mất ngủ. Và khóc. Một đêm ngồi trong góc tối của
căn phòng nhìn chồng nhìn con và nhìn bức ảnh nổi tiếng của
mình. Bức ảnh chụp chị đứng trước tòa án, giữa hai
người quân cảnh đeo kính đen. Chị nhìn cái miệng cười của
mình. Nước mắt lặng lẽ lăn xuống gò má. Bởi vì giờ đây
chị không "được" đứng trước một tòa án để mà
cười. Chị đang đứng trước một thế lực vô hình, chị
đang bị rình rập, truy sát.

Ngày xưa chị nhìn thấy kẻ thù ngay trước mặt, chị bắn nó
bằng một khẩu súng rỉ sét nhưng chị ở thế chủ động,
chị là thợ săn còn kẻ địch là con mồi. Bây giờ thì chị
không biết kẻ thù đang đứng chỗ nào, mặt mũi nó ra sao. Bây
giờ chị có một khẩu K59 mới tinh nhưng chị sẽ bắn vào
đâu? Bắn vào bóng tối? Vào hư vô?

Không ai trả lời những câu hỏi ấy và điều đó làm chị
tuyệt vọng.

Sẽ phải treo sợi dây thòng lọng ở đâu? Trên xà nhà? Trước
cửa? Hay trên một cành cây?

Không thể chết tầm thường được. Phải biến nó thành một
lời cảnh tỉnh, một cáo trạng. Có lẽ chỗ tốt nhất là
Hội trường Văn phòng Trung ương Đảng.

Chị quyết định vào đó để chọn một vị trí thích hợp.

Thính phòng im phăng phắc. Sân khấu mờ ảo. Những dãy ghế
quen thuộc cũng đang lặng thinh, nín thở, chờ xem người đàn
bà quen mặt này sẽ làm gì. Chị bước lên sân khấu, ngước
nhìn những phông màn, những giàn đèn và những sợi dây kéo.
Chị đi một vòng, chậm rãi, thầm lặng. Rồi chị bước
xuống những bậc cấp, tìm đến chiếc ghế mà chị vẫn
thường ngồi trong các phiên họp Ban chấp hành Trung ương
Đảng.

Chiếc ghế ôm chị vào lòng nó, cũng mềm mại, ấm áp như
ngày nào. Chị ngửa cổ, tựa đầu vào lưng ghế. Và khóc.

Dường như chị có thiếp đi được một lúc cho đến khi
chuông điện thoại reo. Chị mở túi xách, Chiếc điện thoại
màu bordeaux đang sáng lên giữa những cuộn dây thòng lọng.

Đó là cuộc gọi của người vô danh, ân nhân giấu mặt của
chị. Chị nhận ra giọng nói quen thuộc. Nó ấm áp và chậm
rãi. Những lần trước, chị đã cố nghĩ xem đó là giọng
của ai nhưng không biết được. Chị chỉ biết chắc người
đó đã gọi cho chị theo lệnh của một đồng chí nào đó
trong Bộ Chính Trị. Lần này giọng nói ấy chỉ là một câu
đơn giản.

-Bộ công an đã bắt hết chúng rồi. Chúc mừng đồng chí.

Chị lặng người đi. Hội trường như sáng lên. Chị thọc tay
vào túi xách, nắm chặt sợi dây thòng lọng.

Chị thấm nước mắt bằng chiếc khăn rằn của du kích Miền
Nam mà chị đã chuẩn bị sẵn. Chị nhìn thẳng lên sân khấu
và cười. Tiếc thay anh nhà báo người Nhật năm nào đã không
có mặt để ghi lại nụ cười ấy. Nó vẫn đẹp. Và nếu
được công bố với đầy đủ những tình huống đắng cay thì
nụ cười trong buổi sáng cuối năm 2000 ở Hội trường này
cũng sẽ trở thành một huyền thoại, và có khi còn nổi tiếng
hơn cả nụ cười của mấy mươi năm về trước.

ĐÀO HIẾU

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140823/dao-hieu-vo-thi-thang-co-mot-nu-cuoi-khac),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Đọc thêm →
<div class="special_quote"><strong>Tin liên quan:</strong>

<ul>
<li><a
href="https://www.danluan.org/tin-tuc/20140822/pham-chi-dung-pho-cap-casino-danh-bac-quen-tay-ngu-ngay-quen-mat-an-vat-quen-mom">Phạm
Chí Dũng - Phổ cập casino: Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen
mắt, ăn vặt quen mồm</a>
<li><a
href="https://www.danluan.org/tin-tuc/20140822/pham-chi-dung-pho-cap-casino-danh-bac-quen-tay-ngu-ngay-quen-mat-an-vat-quen-mom-0">Phạm
Chí Dũng - Phổ cập casino: Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen
mắt, ăn vặt quen mồm (bài 2</a>)</li>
</ul></div>

</li>
</ul></div>


<div class="boxleft300"><img
src="http://3.bp.blogspot.com/-iBzaIH6GvPY/U_geRiIyW2I/AAAAAAAAohM/8Eb4kqAS6X8/s1600/casino-online.jpg"
/><div class="textholder"></div></div>Để có đất cho các casino,
chính quyền địa phương lại phải cưỡng chế giải tỏa dân.
Làn sóng phản ứng của nông dân lại có thể dẫn đến những
xung đột ghê gớm - điều đã hiển thị ở quá nhiều nơi
trên dải đất mà một thi sĩ đã run rẩy "Thơ tôi khóc lệ
rơi hình chữ S".

<b>Phản biện xã hội thất bại</b>

Từ những hậu quả của sân golf, cần nhìn lại hiện trạng
các casino ở Việt Nam, khi tính hiệu quả kinh tế của các dự
án casino hoàn toàn chưa phải là một minh chứng rõ ràng. Ở
casino Đà Nẵng, phản ảnh của những khách chơi người Mỹ
đã cho thấy lượng khách tham gia vào casino này chỉ lèo tèo,
cho dù cơ sở vật chất đã ngốn một khoản đầu tư rất
lớn. Tương tự, những casino khác cũng không khả quan hơn hiện
trạng "cầu" đối với sân golf là mấy.

Từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước, khi dự án mở casino
đầu tiên tại Đồ Sơn khởi động, đã diễn ra rất nhiều ý
kiến phản bác việc cho nước ngoài đầu tư sòng bạc tại
Việt Nam. Làn sóng dư luận phản bác dâng cao vào thời gian đó
là có thể hiểu được, bởi môi trường đạo đức vào giai
đoạn đầu của thời mở cửa dù sao vẫn còn được giữ gìn
nghiêm cẩn hơn nhiều so với những năm sau này, khi "ruồi
muỗi đã bay vào".

Nhưng hệ quả là mọi phản bác đã không có kết quả nào.
Hình như dư luận xã hội đã tỏ ra quá lo xa về tính tác
động tiêu cực của casino đối với tâm lý quen cờ bạc của
người dân Việt.

Ngược lại, quan điểm ưu tiên tăng trưởng kinh tế lại đã
thắng thế. Đầu tư nước ngoài vẫn được chấp nhận, dù
đối tượng của nó là đầu tư sòng bạc. Từ năm 1995 đến
nay, dù vẫn chưa hình thành một khung luật cho đối tượng
này, các sòng bạc nước ngoài vẫn dần dần ngự trị hình
ảnh của nó tại nhiều địa phương.

Đến giờ này, có lẽ không cần bất cứ một khung pháp lý
nào nữa, vì hiển nhiên pháp lý đã chỉ theo đuôi thực tiễn.
Nhiều casino đã mọc lên, và cũng như đối với dự án sân
golf, nhiều sự việc đã được đặt vào thế đã rồi.

Nhưng vẫn chưa phải hết. Cũng như phong trào làm sân golf,
lại đang hình thành một phong trào chạy chọt xin làm casino
tại khá nhiều tỉnh. Điều đáng nói là trong bối cảnh mặt
bằng dân trí hầu như không được nâng lên, mặt bằng thu
nhập ngày càng bị chia cắt bởi hố phân hóa xã hội càng
thêm sâu rộng, chính quyền một số địa phương đã gần như
không quan tâm đến những nghịch lý ấy, mà chỉ thuần túy
chạy theo tính thời thượng của những dự án được coi là
"cứu cánh" cho phát triển kinh tế của địa phương mình.

<b>Đánh bạc quen tay, ăn vặt quen mồm</b>

Trong khi miệt mài chạy theo chủ nghĩa thành tích, dựa vào
những website gần như vô danh trên thế giới để lấy danh cho
vịnh Hạ Long, thậm chí người ta cũng không nghĩ đến việc
đặt sòng bạc bên cạnh thắng cảnh thiên nhiên này là phản
văn hóa đến thế nào.

Văn hóa không phải tự nhiên sinh ra mà có. Những gì mà chúng
ta đang có - được sinh ra từ thiên nhiên. Nhưng thiên nhiên
cũng sẵn lòng lấy lại những gì đã trao nếu chúng ta không
biết tôn trọng sự trao giữ đó.

Văn hóa du lịch đã bị hiểu lệch lạc từ nhiều năm qua.
Là một khái niệm được sinh sau đẻ muộn sau khi đã diễn ra
ồ ạt làn sóng đầu tư vào các dự án du lịch, khái niệm
này chỉ được tôn tạo chủ yếu ở tính hình thức hơn là
một cái gì đó thực chất. Cũng như dự án liên hợp du lịch
- casino ở Quảng Ninh, sự kết hợp casino với môi trường
thiên nhiên trời phú ở đây có thể được xem là một
"tuyệt tác", nhưng không phải của bà mẹ thiên nhiên, mà
bởi sự cưỡng bức từ tham vọng và tham lam của con người.

Tham vọng và tham lam đó lại tạo nên những nghịch lý nối
tiếp không ngớt trong diễn biến kinh tế xã hội ở các địa
phương. Nghịch lý nổi bật nhất chính là sự mất cân bằng
nghiêm trọng giữa điều được mệnh danh là tăng trưởng kinh
tế với môi sinh, sinh thái.

Nhưng tục ngữ Việt Nam có câu: "Đánh bạc quen tay, ngủ
ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm". Tại một đất nước mà
thói quen cờ bạc đã ăn sâu vào bản thể của cộng đồng
dân cư, bất cứ một loại hình cờ bạc nào, từ loại thô
thiển như cá độ và chơi số đề đến loại được ví là
cực kỳ cao cấp như thị trường chứng khoán, cũng đều thu
hút không nhiều thì ít sự tham gia tự nguyện của những
người dân nặng lòng dị đoan vào tính may rủi.

Song thực tế lại đã chứng minh rằng trên cả lớp dân
thường, tầng lớp quan chức mới là những người tiêu xài
ghê gớm nhất trong các sòng bạc. Đặc biệt với những quan
chức mang đặc tính "Ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo,
làm như mèo mửa", mối dây gắn liền từ ăn vặt đến tham
nhũng, từ tham nhũng đến rửa tiền đã hằn sâu trong tâm não
họ.

Và casino chính là một trong những chỗ để rửa tiền hiệu
nghiệm nhất cho các quan chức "ăn vặt quen mồm".




***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140823/pham-chi-dung-pho-cap-casino-danh-bac-quen-tay-ngu-ngay-quen-mat-an-vat-quen-mom),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Đọc thêm →
<strong>Phải xóa bỏ hai thứ mặc cảm sợ hãi đối với Trung
Cộng. Nhưng cũng không nên nuôi ảo tưởng rằng các nước
lớn như Nhật Bản, Mỹ cũng lo việc bảo vệ nước Việt
Nam.</strong>

<center><img
src="http://3.bp.blogspot.com/-xZmEPWfxVdw/UVD-ef3ElqI/AAAAAAAALi8/90Y7rc4MLMs/s1600/memory-appears-susceptible-eradication-fear-responses-1361726212.jpg"
width="560" /></center>

Một thứ mặc cảm nên xóa bỏ là sợ. Một tờ báo Nam Hàn
loan tin ngày 23 Tháng Năm, Cộng sản Trung Quốc đưa 300 ngàn
quân đến Quảng Tây, nhiều người lo sợ Trung Cộng sắp tấn
công đến nơi. Có người ở Hà Nội cho biết đã "thấy trên
đường Cầu Rẽ – Pháp Vân có nhiều đoàn xe quân sự chở
theo pháo hạng nặng và xe tăng chạy hướng Nam-Bắc nhằm về
phía biên giới"; rồi tính chuyện rút tiền ở ngân hàng về
phòng bất trắc.

Nhưng chiến tranh không dễ gì xảy ra, quyết định gây chiến
không giản dị như trong thời trong truyện Tầu, Tam Quốc Chí.
Tương quan quốc tế bây giờ cũng không giống năm 1978, 79.
Thời 35 năm trước, nước Việt Nam hoàn toàn bị cô lập trong
cả vùng Ðông Nam Á cũng như trên thế giới, vì đảng Cộng
sản Việt Nam chỉ biết bám lấy Liên Xô, mà Lê Duẩn tuyên
bố là tổ quốc thứ nhì của ông. Trung Cộng tấn công, Liên
Xô không cứu được, chỉ có dân và lính chết oan khốc.

Nhưng nếu bây giờ Trung Cộng định tấn công, thì họ cũng
phải tính trước. Giả thử họ đánh, chiếm được Hà Nội
rồi thì họ sẽ làm gì đây? Lập thành quận, huyện của Trung
Quốc như thời quân Minh; hay lập một chính phủ bù nhìn?

Một ngàn năm Bắc thuộc cho thấy dân tộc Việt không bị
khuất phục, bây giờ người Việt còn quật cường hơn trước
nhiều. Có ai muốn thử sức hay không? Hơn nữa, ngày nay Trung
Cộng còn yếu hơn thời Minh Thành Tổ, còn lo đối phó với
phản ứng của các nước khác. Mỹ, Úc, Liên Hiệp Âu Châu,
Nhật Bản, Ấn Ðộ, không thể khoanh tay nhìn Trung Cộng đánh,
chiếm một nước láng giềng mà không làm gì cả. Tối thiểu,
họ sẽ trừng phạt về kinh tế từng bước một, như đang áp
dụng trong trường hợp Ukraine.

Trung Cộng vốn đang bị các nước Ðông Nam Á nghi ngờ và họ
càng lánh xa; có nước nào nhìn Trung Cộng lộng hành mà không
lo đến số phận mình hay không? Mỗi nước trên đây chỉ cần
giảm số hàng nhập cảng từ Trung Quốc 10% thì nền kinh tế
đang mong manh sẽ sụp đổ. Putin chưa ngấm đủ các đòn phong
tỏa kinh tế mà đã phải rút quân ở biên giới Ukraine về.
Kinh tế Trung Quốc còn mong manh hơn Nga nhiều, nếu bị thế
giới tẩy chay thì hàng trăm triệu công nhân thất nghiệp, chế
độ cộng sản sẽ đổ, làm sao Tập Cận Bình dám gây thêm
rắc rối?

Ông Tập Cận Bình mới khẳng định rằng Trung Quốc sẽ không
gây thêm rắc rối trong vùng Nam Hải (người Việt gọi là
Biển Ðông); mà chỉ có phản ứng cần thiết nếu bị nước
khác khiêu khích. Có thể tin rằng đó là chính sách của đảng
Cộng sản Trung Hoa.

Một mặc cảm lo sợ khác là bị Trung Cộng tấn công về kinh
tế. Nhưng kinh tế là những cuộc trao đổi; anh kiếm lời thì
tôi cũng kiếm lời; anh làm khó cho tôi thì anh cũng bị thiệt
hại. Năm 2010, Trung Cộng đã ngưng nhập cảng cá hồi từ Na Uy
để trả đũa việc trao giải Nobel Hòa Bình cho Lưu Hiểu Ba.
Năm 2012, họ cấm nhập cảng chuối từ Philippines sau các cuộc
xung đột trên biển. Nhưng cuối cùng, đâu cũng vào đó cả,
cả hai nước bị "trừng phạt" vẫn sống ung dung.

Kinh tế Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ rộng lớn, nhưng có
lợi cho họ hơn cho người mình. Năm ngoái, hai nước trao đổi
hơn 50 tỷ đô la Mỹ về thương mại, trong đó người Việt mua
và trả cho Trung Quốc 37 tỷ mà bên mình chỉ bán cho họ
được 13 tỷ. Chấm dứt tình trạng cán cân mậu dịch chênh
lệch đó thì người Trung Hoa bị thiệt nhiều hơn người
Việt.

Những năm qua, trong các cuộc đấu thầu ở nước ta, các công
ty Trung Quốc trúng thầu 90% các dự án về điện và 80% các
dự án về giao thông. Ðó là một tình trạng bất bình
thường, đáng nghi ngờ. Có áp lực, tham nhũng, đút lót ở
đâu đó, ai biết? Không những thế, các nhà thầu Trung Quốc
luôn luôn gây đình trệ khi thi hành dự án, đòi tăng ngân sách
mới tiếp tục, lại còn mang hàng chục ngàn công nhân lậu sang
chiếm công việc của lao động Việt Nam. Ðó là tình trạng
bất bình đẳng nên chấm dứt càng sớm càng tốt. Nếu các
công ty Trung Quốc ngưng đầu tư vào mỏ bô xít, ngưng khai thác
gỗ rừng ở Việt Nam thì dân Việt còn mừng nữa!

Tình trạng kinh tế bị ràng buộc đến mức bị lệ thuộc
hiện nay là do chính sách ngoại giao sai lầm của đảng Cộng
sản, bám lấy 16 chữ vàng và 4 cái tốt; hậu quả của hội
nghị Thành Ðô nhục nhã năm 1990. Chấm dứt tương quan bất
bình đẳng đó mới mở được một con đường thoát cho kinh
tế Việt Nam trong tương lai.

Tại hội nghị Shangri-La ở Singapore, Thủ Tướng Nhật Bản
Shinzo Abe đã tuyên bố nước Nhật sẽ hợp tác với Mỹ, Ấn
Ðộ, Úc Châu, cùng bảo vệ luật pháp quốc tế và an ninh hàng
hải trong vùng biển Ðông Nam Á. Ðây là một lời cảnh cáo
trước cảnh Trung Cộng đem giàn khoan dầu tới vùng Biển
Ðông. Nhưng mối lo của Trung Cộng không phải chỉ là việc
Nhật hứa viện trợ 10 chiếc tầu thủy cho Philippines để bảo
vệ hải phận, hay hứa sẽ giúp một chiếc tàu cho Việt Nam.

Mối lo chính của Bắc Kinh là nhân cơ hội này ông Abe sẽ
tiến hành nhanh hơn quá trình đưa nước Nhật trở lại làm
một "quốc gia bình thường," để tự vệ và bảo vệ các
đồng minh, trong đó ông kể tới các nước Ðông Nam Á. Bình
thường hóa, nghĩa là Nhật Bản sẽ giải thích lại bản Hiến
Pháp hòa bình, tái lập quân đội, sản xuất và xuất cảng vũ
khí, gửi quân ra nước ngoài.

Cũng tại hội nghị Shangri-La, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ hoan
nghênh các ý kiến của thủ tướng Nhật. Ác mộng của Trung
Cộng là thấy một nước Nhật Bản tái vũ trang và có thể
chế tạo vũ khí nguyên tử bất cứ lúc nào. Theo quyền lợi
của những người lãnh đạo ở Bắc Kinh, họ có muốn giúp cho
nước Nhật có thêm cơ hội liên kết với các nước Ðông Nam
Á và Mỹ chặt chẽ hơn hay không?

Phải xóa bỏ hai thứ mặc cảm sợ hãi đối với Trung Cộng.
Nhưng cũng không nên nuôi ảo tưởng rằng các nước lớn như
Nhật Bản, Mỹ cũng lo việc bảo vệ nước Việt Nam. Các quốc
gia trên thế giới đều chỉ lo bảo vệ quyền lợi của họ.
Năm 1974, Mỹ không giúp Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ Hoàng Sa, vì
lúc đó họ chỉ cần thỏa hiệp để rút khỏi Việt Nam, để
lại cho Trung Cộng và Việt Cộng mầm mống một cuộc tranh
chấp, thanh toán lẫn nhau sau này.

Tại hội nghị Shangri-La khi Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Chuck
Hagel gặp Tướng Vương Quan Trung (Wang Guanzhong), phó tổng tham
mưu trưởng quân đội Trung Cộng, ông nhắc nhở rằng Trung
Quốc đã có những hành động đơn phương gây xáo trộn ở
Scarborough Reef, tại Second Thomas Shoal, và đưa giàn khoan dầu
tới quần đảo Paracels. Ông Hagel nhắc tới hai vụ gây hấn
với Philippines trước, vụ xâm lấn vào lãnh hải Việt Nam sau;
vì nước Mỹ có những thỏa hiệp về an ninh, quân sự với
Philippines, không có ràng buộc nào với Việt Nam. Cho nên chúng
ta không nên nuôi ảo tưởng rằng có thể nhờ vả vào nước
Mỹ trong cuộc tranh chấp với Trung Cộng.

Chính quyền Mỹ luôn luôn khẳng định rằng họ hoàn toàn
trung lập về chủ quyền các đảo trong vùng Biển Ðông. Ðối
với quyền lợi của dân Mỹ, các mỏ dầu khí dưới đáy
biển thuộc chủ nhân nào thì cũng không ảnh hưởng đến
việc mua bán của họ. Một nhà bình luận Mỹ đặt câu hỏi:
"Chúng ta (người Mỹ) có cần quan tâm đến chuyện một công
ty Trung Quốc hay Việt Nam hút dầu từ đáy biển chung quanh
quần đảo Paracels rồi đem bán hay không? Chúng ta có quan tâm
đến về chuyện một ngư dân nghèo người Philippine hay một
ngư dân nghèo Trung Hoa đánh được cá ở Scarborough Shoal hay
không? Nước Mỹ có đánh nhau với Trung Quốc về mấy bãi đá
và tảng đá ngầm giữa đại dương hay không?"

Cuối cùng, cần xóa bỏ các mặc cảm, cũng xóa bỏ cả các
ảo tưởng. Người Việt Nam chỉ có thể trông cậy vào sức
mình để bảo vệ quyền lợi quốc gia, những thứ còn có thể
bảo vệ được.

Chiến lược lâu dài của đảng Cộng sản Trung Hoa là gậm
nhấm từng mảnh một, trong khi vẫn nói là sẵn sàng thảo
luận với các nước khác trong vùng Biển Ðông, miễn là thảo
luận song phương. Trong lâu dài, thủ đoạn này chỉ có lợi cho
họ. Họ sẽ đặt thế giới trước những "sự đã rồi,"
như việc thành lập huyện Tam Sa trước đây, và việc đem giàn
khoan vào hải phận nước ta mới rồi. Thế giới sẽ dần dần
chấp nhận những 'sự đã rồi" này, hoặc chỉ phản đối
lấy lệ.

Nước Việt Nam không thể để mình bị rơi vào trong cái bẫy
đó. Cần có một chính phủ Việt Nam thực sự do dân Việt
bầu cử tự do lập nên.

Cần có một chính quyền thoát ra khỏi cái vòng dây trói buộc
16 chữ vàng và 4 cái tốt; sẵn sàng giao hảo với các nước
khác mà không sợ làm mất lòng Trung Cộng.

Cần một chính quyền cho dân được tự do kinh doanh, phục
hồi kinh tế để dân giầu, nước mạnh. Muốn như vậy, cần
phải chấm dứt chế độ cộng sản.




***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140823/nguyen-khac-trung-xoa-bo-mac-cam-so-hai),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Đọc thêm →
Kính thưa Bộ trưởng,

Xin thứ lỗi cho tôi vì làm mất thời gian của Bộ trưởng.

Là một công dân Pháp nhưng tôi đã sống ở Hà Nội 15 năm nay,
một cách tự nguyện, tôi dành phần lớn thời gian và công
sức của mình nhằm thúc đẩy sự phát triển vật lý thiên
văn ở Việt Nam -qua đào tạo và nghiên cứu- đặc biệt tôi
đã tập hợp và đào tạo một nhóm các nhà vật lý trẻ bao
gồm ba thực tập sinh sau tiến sĩ, hai nghiên cứu sinh (sẽ bảo
vệ vào cuối năm nay và năm sau) và một học viên cao học.

Trong suốt thời gian sống ở Việt Nam, tôi tiếp xúc gần gũi
với nhiều sinh viên và nhà khoa học trẻ Việt Nam -đặc biệt
những bạn ở nhóm nghiên cứu nhỏ của chúng tôi- và tôi rất
lo lắng về khả năng mang lại tương lai mà họ xứng đáng
được hưởng của đất nước. Tôi luôn cố gắng hết sức
để ngăn chặn nạn chảy máu chất xám nghiêm trọng mà đất
nước đang phải hứng chịu và góp phần nâng cao chất lượng
đại học, hiện tại còn thấp hơn rất nhiều so với mức
độ mà đất nước xứng đáng có được.

Dĩ nhiên, tôi biết về lịch sử của Việt Nam, đất nước
đã phải chịu hậu quả của chiến tranh và nghèo đói trong
nhiều thập kỷ, tôi hiểu rõ những nguyên nhân của tình
trạng hiện nay. Tôi cũng nhận thấy sự phức tạp trong việc
giải quyết những khó khăn này và tôi biết chỉ ra thiếu sót
và phê phán thì dễ nhưng khắc phục để phát triển thì khó
hơn nhiều.

Tuy vậy, trong suốt những năm qua, tôi đã chứng kiến một số
thiếu sót trong hệ thống của chúng ta và nó có xu hướng là
nguyên nhân của tình trạng tê liệt và xơ cứng cản trở sự
tiến bộ. Phần lớn những thiếu sót này liên quan đến thủ
tục hành chính, chỉ một số ít gây ra do thiếu đạo đức.
Với tôi, một vài trong số những thiếu sót này có thể
được khắc phục mà không mất nhiều công sức. Sống ở
Việt Nam, như một người Việt, tôi cảm thấy lo lắng một
cách tự nhiên về hình ảnh của đất nước bị làm xấu trong
con mắt bạn bè quốc tế.

Tiêu biểu cho những bất cập này là những quy định về việc
trao bằng tiến sĩ. Tôi lấy việc này làm ví dụ minh họa cho
ý của mình.

Tôi có kinh nghiệm trực tiếp (dĩ nhiên tôi biết nhiều
trường hợp khác nữa) với: 1) 3 nghiên cứu sinh thực hiện
luận án theo hình thức đồng hướng dẫn giữa Viện Vật lý
(Viện Khoa học Việt Nam) hoặc Đại học Khoa học Tự nhiên Hà
Nội với những trường đại học uy tín của Pháp (Orsay và
Paris 6 – Jussieu); 2) một nghiên cứu sinh, hoàn toàn thực hiện
luận án tại Việt Nam với Viện Vật lý; 3) hai nghiên cứu sinh
đang thực hiện luận án theo hình thức đồng hướng dẫn với
hai cơ sở nghiên cứu chất lượng cao Đài thiên văn Paris và
Đại học Paul Sabatier tại Toulouse với Viện Vật lý Hà Nội.
Không theo những điều khoản đã được ký kết và viết rất
rõ trong thỏa thuận ở cấp cao của các cơ sở tham gia đào
tạo, không một ai trong ba sinh viên thực hiện nghiên cứu sinh
theo hình thức đồng hướng dẫn nhận được bằng tiến sĩ
của Việt Nam. Những sinh viên này đã bảo vệ luận án tại
Pháp, sau khi đã thực hiện đầy đủ những điều khoản trong
thỏa thuận, nhất là về ngôn ngữ và thành phần hội đồng
chấm luận án (tỉ lệ thành viên trong hội đồng từ phía
Việt Nam và Pháp). Những sinh viên này đã nhận được bằng
của Pháp ngay sau khi bảo vệ cách đây nhiều năm với những
lời tán dương từ hội đồng.

Người nhận bằng tiến sĩ từ Việt Nam (không thực hiện theo
hình thức đồng hướng dẫn) đã phải đợi một năm từ khi
luận án được in với sự đồng ý của hội đồng cấp bộ
môn cho đến hội đồng cấp viện.
Liên quan đến hai nghiên cứu sinh đang thực hiện luận án theo
hình thức đồng hướng dẫn, tôi quyết định để họ bảo
vệ tại Hà Nội, với hy vọng rằng quá trình thực hiện có
thể sẽ suôn sẻ hơn. Tuy nhiên, có vẻ mọi việc không được
như tôi nghĩ.

Bộ trưởng biết rõ, những bước chính để có thể nhận
được bằng tiến sĩ ở Việt Nam là:

1. Trình bày trước hội đồng gồm 3 thành viên 6 chuyên đề
liên quan đến luận án: trực tiếp (3 chuyên đề) và gián
tiếp (3 môn học phần tiến sĩ).

2. Trình bày trước hội đồng gồm 7 thành viên, nếu thành
công luận án sẽ được đề nghị bảo vệ ở cấp tiếp theo.
3. Luận án sẽ được phản biện bởi hai phản biện kín, để
đi đến bước tiếp theo luận án phải có được nhận xét
tích cực từ hai phản biện này.

4.Thêm vào đó, nghiên cứu sinh phải chuẩn bị 50 bản tóm tắt
luận án để gửi tới một danh sách các chuyên gia và phải thu
lại được ít nhất 15 nhận xét tích cực.

5.Cuối cùng luận án được chấm trước một hội đồng gồm
7 thành viên, trong đó bao gồm 3 phản biện và luận án sẽ
được đánh giá bằng bỏ phiếu.

Đối với ngành thiên văn vô tuyến, lĩnh vực mà chúng tôi
đang nghiên cứu, ở Việt Nam chỉ có hai chuyên gia, là Giáo sư
Đinh Văn Trung ở Hà Nội và Phan Bảo Ngọc ở Thành phố Hồ
Chí Minh, cả hai đều là những người được biết đến trên
thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu của mình. Điều này làm
cho việc phản biện kín trở nên khá hài hước, đấy là chưa
nói đến 50 chuyên gia đề cập ở bước 4. Trong trường hợp
đồng hướng dẫn, đối với đại học ở nước nước ngoài,
chỉ cần bước thứ hai là cần và đủ. Trong suốt những năm
qua, tôi luôn tự hỏi tại sao Việt Nam lại sử dụng một quy
trình phức tạp đến như vậy. Không thể làm như thế mà có
thể hy vọng làm tốt hơn đại học khác trên thế giới,
những trường có vị trí xếp hạng cao hơn nhiều so với các
đại học Việt Nam trên bảng xếp hạng Thượng Hải. Một lý
do đưa ra có thể là để chống lại gian dối; như TS. Bùi Anh
Tuấn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học của Bộ, phát biểu
trong một bài phỏng vấn gần đây, khẳng định có tồn tại
một vài gian dối. Nhưng tôi tin chắc rằng đại đa số các
giáo sư Việt Nam là trung thực và, dù sao đi nữa, cách để
chống lại gian dối là phạt thật nặng những tác giả của
nó, chứ không phải làm cho cuộc sống của những người trung
thực trở nên khốn khổ. Dành phần lớn sự nghiệp nghiên
cứu khoa học của mình tại một trung tâm nghiên cứu quốc
tế, tôi đã có rất nhiều kinh nghiệm trong việc hướng dẫn
và đánh giá luận án tiến sĩ ở nhiều nước châu Âu và châu
Mỹ. Chưa bao giờ tôi gặp những quy định phức tạp giống
như ở Việt Nam, và tôi cũng chưa bao giờ cảm thấy những nhà
quản lý học thuật lại thiếu niềm tin vào người hướng
dẫn như ở Việt Nam.

Trong bài phỏng vấn mà tôi đã đề cập, TS. Bùi Anh Tuấn có
bình luận về mục tiêu đạt được 20'000 tiến sĩ đến năm
2020; ông tán thành phát biểu của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam
rằng để đổi mới hệ thống giáo dục quốc gia, bản thân
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cần phải đổi mới. Đơn
giản hóa những quy định, đối với tôi, là một bước rõ
ràng để đổi mới; thực hiện việc này chẳng tốn kém gì;
nó sẽ cải thiện nhiều hình ảnh của đất nước trong con
mắt bạn bè quốc tế; nó sẽ giải phóng nền học thuật
thoát khỏi sự độc tài của thủ tục hành chính mà lẽ ra
chúng được sinh ra để phục vụ chứ không phải để điều
khiển; nó sẽ làm cho những người hướng dẫn trung thực,
chiếm phần đa, cảm thấy các nhà quản lý tin tưởng mình hơn
so với hiện nay.

Đây là động lực thúc đẩy tôi viết bức thư này, với hy
vọng làm Bộ trưởng chú ý đến vấn đề mà dường như
đối với tôi có thể giải quyết một cách dễ dàng và nó
sẽ giúp Bộ đạt được mục tiêu đào tạo được 20'000
tiến sĩ đến năm 2020. Vì Bộ trưởng không biết tôi, dĩ
nhiên, không có lý do gì để Bộ trưởng phải tin tôi; vì lẽ
đó tôi mạn phép viết bức thư này dưới dạng thư ngỏ để
những ai quan tâm đến việc cải thiện chất lượng giáo dục
đều có thể đọc được với hy vọng rằng họ sẽ ủng hộ
nhận định của tôi. Ngược lại, nếu nhiều người không
đồng tình với cách nhìn này, dĩ nhiên tôi sẽ rút lại những
nhận định của mình và xin Bộ trưởng lượng thứ cho. Tôi
trình bày những quan điểm trên chỉ với một mong muốn duy
nhất là phục vụ cho khoa học, giáo dục đại học ở Việt
Nam và đem lại cơ hội tốt hơn cho thế hệ trẻ.

Trân trọng,

Pierre Darriulat
Hà Nội, tháng Tám, 2014

Contact
Email: darriulat@vinatom.gov.vn
Vietnam Astrophysics Training LaboratorY,
Institute for Nuclear Science and Technology, 179 Hoang Quoc Viet, Nghia Do,
Cau Giay, Ha Noi
<strong><em>
Người dịch: Phạm Ngọc Điệp (Email:
dieppn@vinatom.gov.vn)</em></strong>



-----------------------------------------------------------
Open letter

To His Excellency the Minister of Education and Training,

Mister Minister,

Please, accept my apologies for taking some of your time.

While being a French national, I have now been resident in Ha Noi for some
fifteen years during which, on a voluntary basis, I have dedicated much time
and effort to the promotion of astrophysics in the country – university
training and research – in particular by having gathered and trained a team
of young astrophysicists that now includes three postdocs, two PhD students
who should obtain their degrees at the end of this and next year respectively
and one master student.

During all these years, I have been very close to many Vietnamese students
and young scientists – in particular to those of our small research team
– and very concerned about the ability of the country to offer them the
future that they deserve having. I have done my utmost to help stopping the
disastrous brain drain that the country suffers, and to help raising the
level of our universities, which is much lower than what the country is
worthy of.

I am of course familiar with the recent history of Viet Nam, the decades of
suffering that the country has endured through wars and starvation, and I
understand very well the reasons for the present situation. I am also
conscious of the immensity of the task and I know how easy it is to identify
weaknesses and to criticize, and how difficult it is to correct flaws and to
progress.
Yet, during all these years, I have witnessed a number of such flaws in our
system that tend to be source of paralysis and sclerosis and prevent
progress, mostly associated with bureaucracy, less often with insufficient
morality. It seems to me that a few of these could be corrected without too
much effort. After all these years, I feel naturally concerned by the country
giving abroad a bad image of itself, probably as much as Vietnamese do.

Emblematic of such dysfunctions is the regulation that governs the award of a
PhD degree to young postgraduate students. I should like to take it as an
example to illustrate my point.
My direct experience (of course I know of many more other cases) is with 1)
three PhD under joint supervision between the doctoral schools of the Ha Noi
Institute of Physics (IOP/VAST) or the Ha Noi University of Sciences (HUS)
and prestigious French universities (Orsay and Paris 6-Jussieu); 2) one PhD,
purely Vietnamese, with IOP; 3) two ongoing PhDs under joint supervision with
the Paris Observatory and the Paul Sabatier University in Toulouse, both of
very high level, and the Ha Noi IOP.

In spite of what had been agreed in very clear written agreements signed at
high level in the participating universities, none of the three
joint-supervision students has obtained his PhD degree in Viet Nam. The
defence of their theses has taken place in France, obeying scrupulously the
terms of the joint-supervision agreement, in particular concerning language
and balance of the jury members. They obtained their French degree
immediately after the defence, years ago, with very laudatory assessments of
the jury.

The doctor who obtained her degree from Viet Nam (no joint supervision) had
to wait one full year between the time when the thesis was printed and
approved by the first jury and the final award.
Concerning the two PhD students under joint-supervision who are now in the
mill, I decided to have their defence take place in Ha Noi, in the hope that
it would make the procedure smoother. However, it does not seem to be the
case.

As you well know, the main steps to get over in order to obtain the
Vietnamese degree are

1. Presentation to a jury of 3 members of six subjects related to the thesis
either directly (for three of them) or indirectly (for the other three).
2. Presentation to an evaluation jury of 7 members, which must recommend the
thesis for evaluation at institute level for proceeding to next step.
3. Double blind peer review by two experts who must give a positive
assessment for proceeding to next step.
4. In addition, the candidate must prepare some 50 copies of a short version
of the thesis for distribution to a list of experts out of which at least 15
positive assessments must be collected.
5. An evaluation jury of 7 members including 3 referees will finally evaluate
the thesis by ballot.

In the case of radio astronomy, on which we are working, there exist only two
experts in Viet Nam, Professors Dinh Van Trung in Ha Noi and Phan Bao Ngoc in
TPHCM, both internationally renowned. It makes the idea of blind refereeing
somewhat funny, not to comment on the 50 experts for step 4. Of the above
list, in the case of joint supervision, step 2 alone is necessary and
sufficient in the foreign country. Over all these years, I have wondered why
Viet Nam is following such a complicated procedure. It cannot be in the hope
to do better than so many other universities around the world that are so
much higher in the Shanghai ranking than Vietnamese universities are. A
possibility is the need to prevent frauds; as Dr Bui Anh Tuan, Director of
the Department of Higher Education in your Ministry, said in a recent
interview, there exist indeed a few frauds. But I am sure that Vietnamese
professors, in their vast majority, are honest and, in any case, the way to
fight against fraud is to severely punish its authors, not to make the life
of the honest people more miserable. Having spent most of my scientific
career in an international research centre, I have had numerous opportunities
to supervise and assess PhD theses in many European and American countries.
Never have I met regulations nearing those of Viet Nam in complexity; and
never have I felt to enjoy as little confidence from academic authorities as
I do in Viet Nam.

In the interview to which I already alluded, Dr Bui Anh Tuan commented on the
need to reach 20'000 PhDs by 2020; he endorsed the views of Deputy Prime
Minister Vu Duc Dam that in order to renovate the national education system,
it would be necessary for the MoET to renovate itself. A simplification of
the above regulations seems to me an obvious step in the right direction; it
costs nothing; it will greatly improve the image that the country gives of
itself abroad; it will help freeing academics from the dictatorship of
administration which should be at their service rather than controlling them;
it will make the honest supervisors, the immense majority of them, feel
better trusted by their authorities than they currently do.

This motivated my letter, in the hope that it might bring your attention on a
problem that seems to me easy to solve and that would help your Ministry in
reaching its goal of 20000 PhDs by 2020. As you do not know me, you have of
course no reason to believe me; for this reason I take the liberty to make my
letter accessible to all those who are concerned by improving the level of
higher education in the hope that they might support my statements.
Conversely, if my views were not shared by many, I would of course retract
them and ask for your indulgence. Be sure that my only motivation in
expressing them is to serve Vietnamese science and higher education and to
give better chances to the younger generation.

Very respectfully yours,
Pierre Darriulat,
Ha Noi, August, 2014

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140823/pierre-darriulat-thu-ngo-gui-toi-ngai-bo-truong-bo-giao-duc-va-dao-tao-viet-nam),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Đọc thêm →
Các bài viết có liên quan của vụ án Cù Huy Hà Vũ được Dân Luận tập hợp tại đây: Hồ Sơ Cù Huy Hà Vũ, hoặc theo từ khóa "Cù Huy Hà Vũ".

Độc giả có thể truy cập Dân Luận an toàn hơn qua cổng HTTPS (HTTP có mã hóa bảo mật), bằng cách thêm https:// vào đằng trước địa chỉ danluan.org, hoặc bấm vào đây!
Bấm vào đây để đọc chuyên mục Góp ý sửa đổi Hiến Pháp 1992
Bấm vào đây để đọc cuốn Trần Huỳnh Duy Thức - Con Đường Nào Cho Việt Nam

Quỹ Dân Luận


Bấm nút Donate để ủng hộ tài chính cho Dân Luận qua Paypal. Thu chi quỹ Dân Luận: xem ở đây!

Hỗ trợ dân chủ

Bạn có thể chia sẻ tấm lòng của mình với các nhà hoạt động dân chủ trong nước và gia đình của họ, ngay cả khi bạn đang ở trong nước. Bạn chỉ cần ra bưu điện, hỏi về dịch vụ "chuyển tiền nhanh". Người ta sẽ cấp cho bạn một phiếu, trong đó có phần thông tin người gửi và người nhận. Phần người nhận bạn cần điền chi tiết và chính xác. Còn phần người gửi, bạn không cần điền chính xác. Phí chuyển tiền không đắt, hãy làm gì đó chứng tỏ xã hội đứng phía sau những công dân này!

Danh sách các nhà hoạt động dân chủ trong nước và địa chỉ của họ có thể được tìm thấy ở đây!

Dân Luận kêu gọi bài vở theo chủ đề: Nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh bất bạo động và xây dựng phong trào của Tổ chức Otpor (Phản Kháng) của Serbia. Đây là kinh nghiệm là các lực lượng đối kháng tại Tunisia và Ai Cập đã vận dụng để lật đổ độc tài tại các quốc gia này...

Bài mới trên Dân Luận

Archives